Nâng tầm công nghiệp hỗ trợ

Thứ tư, 26/11/2025 – 05:37 Năng lực của ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) phản ánh trực tiếp sức mạnh tự chủ của nền kinh tế. Những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến quan trọng trong phát triển CNHT, song vẫn còn không ít khó khăn, đặc biệt là điểm nghẽn về công nghệ. Việc làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo chính là yếu tố quyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng giá trị nội địa và đóng góp mạnh mẽ hơn vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nỗ lực thoát cảnh làm thuê công nghệ CNHT được xem là xương sống của nền công nghiệp hiện đại, giữ vai trò cung ứng linh kiện, phụ tùng, vật liệu và các quy trình kỹ thuật cho các ngành sản xuất chủ lực. Khoảng 30 năm trước, khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) mới vào Việt Nam, việc tìm kiếm nhà cung cấp linh kiện trong nước vô cùng khó khăn. Nhiều doanh nghiệp FDI phải nhập khẩu hầu hết chi tiết, thậm chí cả những linh kiện đơn giản như ốc vít hay gioăng cao su. Đến nay, diện mạo CNHT Việt Nam đã thay đổi đáng kể. Hoạt động sản xuất tại Khu công nghiệp Liên Hà Thái, tỉnh Hưng Yên. Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, quy mô mở rộng, trình độ công nghệ được cải thiện. Nhiều doanh nghiệp cơ khí tại Bắc Ninh, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai đã đầu tư mạnh vào hệ thống máy móc hiện đại, ứng dụng quản trị ERP (hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp), máy gia công CNC, robot hàn và dây chuyền tự động hóa. Các sản phẩm linh kiện nhựa kỹ thuật, khuôn mẫu, chi tiết kim loại chính xác… đã đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đặc biệt, chương trình hợp tác giữa Bộ Công Thương và Samsung Việt Nam về tư vấn, đào tạo nhà máy thông minh đã mang lại kết quả tích cực. Hàng trăm doanh nghiệp CNHT Việt Nam được nâng cấp quy trình sản xuất, mức độ nhà máy thông minh tăng từ 0,9 lên 2,1 điểm, thể hiện hiệu quả rõ nét của chuyển đổi công nghệ trong nâng cao năng suất và chất lượng. Theo ông Chu Việt Cường, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ phát triển công nghiệp (Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương), hiện cả nước có gần 7.000 doanh nghiệp CNHT, tập trung ở 5 lĩnh vực: Cơ khí, ô tô, điện-điện tử, dệt may, công nghệ cao. Trong đó, khoảng 300 doanh nghiệp đã tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI lớn như Samsung, Toyota, Honda, LG… Một số doanh nghiệp trong nước đã làm chủ sản xuất linh kiện kỹ thuật cao như khuôn mẫu, chi tiết nhựa và kim loại chính xác. Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, CNHT Việt Nam vẫn được đánh giá là mắt xích yếu trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp mới chỉ dừng ở khâu gia công đơn giản, giá trị gia tăng thấp, chưa đủ năng lực tự thiết kế, chế tạo hoặc làm chủ công nghệ lõi. Điều này dẫn tới tình trạng làm thuê công nghệ kéo dài, khó nâng tầm thương hiệu và giá trị nội địa hóa. Nhìn vào lĩnh vực cơ khí và ô tô, tỷ lệ nội địa hóa đạt khoảng 30-40%, nhưng chủ yếu tập trung ở các chi tiết đơn giản. Ở ngành điện tử, tỷ lệ này chỉ dao động 5-10%, bởi nhiều linh kiện quan trọng như chip, bo mạch, cảm biến… vẫn phải nhập khẩu. Ngành dệt may, da giày-dù có kim ngạch xuất khẩu lớn-vẫn phụ thuộc phần lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, đặc biệt là vải, da thuộc và phụ kiện kỹ thuật. Theo ông Nguyễn Vân, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp CNHT TP Hà Nội, điểm nghẽn lớn nhất của ngành hiện nay là trình độ công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo còn yếu. Phần lớn doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư cho nghiên cứu-phát triển (R&D), đổi mới máy móc, thiết bị, dẫn tới năng suất và chất lượng sản phẩm chưa cao. Ngoài ra, thiếu vốn, nhân lực kỹ thuật và năng lực quản trị hiện đại cũng là rào cản khiến doanh nghiệp khó tiếp cận và làm chủ công nghệ tiên tiến. Trong khi đó, yêu cầu từ các chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng khắt khe, đòi hỏi sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, môi trường, quản lý và trách nhiệm xã hội. Nếu không bắt kịp xu thế này, doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó tham gia sâu vào chuỗi giá trị và có nguy cơ bị loại khỏi thị trường quốc tế. Cần có luật về công nghiệp hỗ trợ? Thực tiễn từ các quốc gia công nghiệp phát triển cho thấy, làm chủ công nghệ là con đường duy nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh. Nếu chỉ dựa vào lợi thế lao động giá rẻ và gia công đơn giản, doanh nghiệp Việt Nam sẽ mãi đi sau và khó có thể vươn lên trong chuỗi cung ứng toàn cầu. “Gia tăng hàm lượng công nghệ là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của sản phẩm. Đây là lối thoát duy nhất để doanh nghiệp thoát cảnh gia công giá rẻ và có sức cạnh tranh trước biến đổi của thị trường”, ông Cao Văn Hùng, Giám đốc phát triển thị trường quốc tế, Công ty Cổ phần Cơ khí chính xác Smart Việt Nam nhìn nhận. Đề xuất các giải pháp để CNHT thực sự trở thành bệ đỡ cho ngành sản xuất, các ý kiến cho
Định vị ngành nhựa Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

23/10/2025, 06:50 Yêu cầu ngày càng khắt khe về môi trường, thuế quan và chuẩn xanh quốc tế… là thách thức những cũng là động lực để ngành nhựa tái cấu trúc, đổi mới công nghệ – thiết kế, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, tăng cường tái chế và phát triển vật liệu thân thiện môi trường… Ngành nhựa đặt mục tiêu đẩy mạnh kinh tế tuần hoàn, nâng cao tỷ lệ tái chế, phát triển vật liệu thân thiện môi trường. Tại Lễ kỷ niệm 35 năm thành lập Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), các nhận định cho rằng ngành nhựa đã trở thành một trong những ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế, với quy mô ước tính đạt khoảng 32 tỷ USD vào năm 2024, ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 24% so với năm 2023. Ngành đóng góp đáng kể vào GDP, với sự tham gia của gần 5.000 doanh nghiệp, tạo ra hàng trăm nghìn việc làm và xuất khẩu sản phẩm tới hơn 190 quốc gia trên thế giới. 35 NĂM PHÁT TRIỂN VÀ BÀI TOÁN QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC Nhìn lại chặng đường 35 năm, ngành nhựa Việt Nam sở hữu một cấu trúc đặc trưng: phân mảnh nhưng năng động, chủ yếu dựa vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngành được chia thành bốn nhóm chính: nhựa bao bì (chiếm 35–40% thị phần), nhựa gia dụng (25–30%), nhựa kỹ thuật (20–25%), và nhựa vật liệu xây dựng (10–15%). Tính linh hoạt cao của các doanh nghiệp đã giúp ngành thích ứng nhanh với nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu gia công (OEM), đặc biệt là trong lĩnh vực bao bì và linh kiện nhựa. Tuy nhiên, thách thức về năng lực cạnh tranh vẫn còn hiện hữu. GS. TS Vũ Minh Khương – Giáo sư thực hành về Chiến lược Phát triển Kinh tế và Phân tích Chính sách – Trường Chính sách công Lý Quang Diệu – Đại học Quốc gia Singapore dẫn dữ liệu năm 2023, cho thấy năng suất lao động của ngành nhựa Việt Nam chỉ đạt 12.736 USD/lao động, thấp hơn so với mức trung bình của toàn ngành công nghiệp chế tạo Việt Nam (14.642 USD/lao động). So sánh với Hàn Quốc – một cường quốc công nghiệp, năng suất lao động ngành nhựa Việt Nam chỉ bằng khoảng 1/8,5 (Hàn Quốc đạt 107.990 USD/lao động). Thậm chí, năng suất lao động trong ngành nhựa Việt Nam còn thấp hơn 30–40% so với mức trung bình của nhóm ASEAN-5. Dấu hiệu tích cực là thu nhập bình quân của người lao động ngành nhựa lại cao hơn một chút so với toàn ngành chế tạo, và đã tăng hơn 5 lần từ năm 2006 đến 2023. Song, tỷ trọng tiền lương cao trong năng suất lao động (thường xuyên vượt 40%) lại là chỉ báo cho thấy nỗ lực đầu tư vào công nghệ và máy móc thiết bị để tăng tự động hóa còn hạn chế. Bài toán quản trị chiến lược còn nằm ở sự phụ thuộc lớn vào chuỗi cung ứng quốc tế theo mô hình “nhập đầu vào – xuất sản phẩm hoàn chỉnh”. Khoảng 80–85% hạt nhựa nguyên sinh phải nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Đông, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, khiến ngành dễ bị tổn thương trước biến động giá dầu và tỷ giá. Cán cân thương mại năm 2023 cho thấy ngành nhựa Việt Nam xuất khẩu 7,58 tỷ USD nhưng nhập khẩu lên tới 13,8 tỷ USD. Xét rộng hơn trong hệ sinh thái sản phẩm nhựa năm 2024, dù xuất khẩu đạt 58,7 tỷ USD (thặng dư thương mại 33 tỷ USD), ngành lại phụ thuộc quá sâu vào thị trường Hoa Kỳ (chiếm 39% kim ngạch xuất khẩu) và vào Trung Quốc (chiếm 60% kim ngạch nhập khẩu hạt nhựa, khuôn, máy ép). TÁI CẤU TRÚC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG, VƯƠN LÊN TRONG KỶ NGUYÊN 5.0 Trong bối cảnh toàn cầu hóa và yêu cầu ngày càng khắt khe về môi trường, tiêu chuẩn xanh và hội nhập quốc tế, những quy định quốc tế và trong nước như Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), thiết kế sinh thái (eco-design), truy xuất nguồn gốc, tính toán vòng đời sản phẩm, và các tiêu chuẩn ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) đang trở thành yêu cầu bắt buộc. GS.TS Vũ Minh Khương đề xuất lộ trình bứt phá cho ngành nhựa Việt Nam, trong đó số hóa, tự động hóa là động lực chính, hợp tác công – tư là phương thức triển khai, còn kinh tế tuần hoàn là khung vận hành hướng tới phát triển bền vững và nâng cao vị thế cạnh tranh của ngành trong khu vực và toàn cầu. Trong giai đoạn tới, ngành đã xác định các định hướng trọng tâm mang tính chiến lược. Đó là tăng trưởng bền vững theo chiều sâu thông qua đổi mới công nghệ, tự động hóa, số hóa và tiêu chuẩn hóa dữ liệu môi trường, lấy chất lượng và hiệu quả làm thước đo cạnh tranh. Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng giá trị và công nghệ cao, từ “sản phẩm nhựa khối lượng lớn” sang “ngành sử dụng nhựa giá trị cao”. Mục tiêu là tỷ trọng sản phẩm công nghệ từ cấp 3–5 chiếm hơn 55% kim ngạch xuất khẩu. Đồng thời đẩy mạnh kinh tế tuần hoàn, nâng cao tỷ lệ tái chế, phát triển vật liệu thân thiện môi trường. Với tỷ lệ tái chế hiện tại chỉ khoảng 20-25%, tiềm năng phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn là rất lớn. Mục tiêu lớn là xây dựng “Chiến lược ngành nhựa tuần hoàn 2045” gắn với tăng trưởng xanh và tự chủ công nghệ. Bên cạnh đó, tăng cường nghiên cứu và phát triển (R&D) và làm chủ
NestWorks C500: Máy CNC gia công titan chính xác cao gây sốt trên Kickstarter

23/12/2025 10:24 NestWorks C500 là máy CNC mới có khả năng xử lý đa dạng vật liệu, kể cả titan, với độ chính xác ấn tượng, đang được chào bán với mức ưu đãi 40% trên nền tảng Kickstarter. NestWorks vừa chính thức giới thiệu C500, một mẫu máy CNC mới đang thu hút sự chú ý lớn trên nền tảng gọi vốn cộng đồng Kickstarter. Thiết bị này được thiết kế để xử lý linh hoạt nhiều loại vật liệu khác nhau, từ các loại nhựa kỹ thuật đến những kim loại có độ cứng cao như titan, đảm bảo độ chính xác vượt trội cho người dùng cá nhân và các xưởng sản xuất nhỏ. Khả năng gia công vật liệu đa dạng Điểm nhấn công nghệ của NestWorks C500 nằm ở hệ thống truyền động và đầu cắt được tối ưu hóa, cho phép máy vận hành ổn định trên nhiều bề mặt vật liệu. Theo thông tin từ nhà sản xuất, C500 có thể xử lý các tác vụ phức tạp với độ dễ dàng tương đối, một đặc tính hiếm thấy trên các dòng máy CNC cùng phân khúc giá. The C500 is a new CNC machine for various different materials (Image source: NestWorks) Ứng dụng thực tế trong sản xuất và DIY Với khả năng gia công titan – loại vật liệu nổi tiếng về độ bền và độ khó khi xử lý – NestWorks C500 mở ra nhiều khả năng ứng dụng thực tiễn. Thiết bị này cho phép người dùng tự sản xuất các linh kiện thay thế tùy chỉnh (spare parts) hoặc hiện thực hóa những sáng tạo nguyên bản hoàn toàn mới. Đây được xem là giải pháp tiềm năng cho giới DIY (tự tay làm lấy) và những nhà sáng chế cần sự tỉ mỉ trong từng chi tiết cơ khí. Cơ hội tiếp cận công nghệ với chi phí tối ưu Hiện tại, dự án NestWorks C500 đã đạt được những thành công bước đầu trên Kickstarter. Để thúc đẩy cộng đồng, nhà sản xuất đang áp dụng chương trình ưu đãi giảm giá lên tới 40% cho những người ủng hộ sớm. Sự xuất hiện của C500 không chỉ làm phong phú thêm thị trường máy công cụ cá nhân mà còn thu hẹp khoảng cách giữa gia công công nghiệp và sản xuất tại gia. Đặc tính Thông tin chi tiết Tên sản phẩm NestWorks C500 Vật liệu hỗ trợ Đa dạng, bao gồm cả Titan Độ chính xác Cao Nền tảng phân phối Kickstarter Ưu đãi hiện tại Giảm 40% Tuệ Nhân